Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 5

  • Hôm nay 45

  • Tổng 9.132.382

Bình chọn

Theo bạn thông tin nội dung website thế nào ?

Phong phú đa dạng
Dễ sử dụng
Hữu ích

221 người đã tham gia bình chọn

“Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó”

Ngày đăng: 25/08/2026

Xem với cỡ chữ : A- A A+

Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tư lệnh của các tư lệnh, Chính ủy của các Chính ủy, Tướng của các tướng, Thầy của các bậc thầy về quân sự - là vị Tổng Tư lệnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người “Anh Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Trong hơn 80 năm hoạt động cách mạng, Đại tướng có những cống hiến đặc biệt xuất sắc đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, từ những ngày đầu xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng đến những năm tháng chỉ huy quân đội trong các cuộc kháng chiến trường kỳ, góp phần quan trọng cùng Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và toàn quân làm nên những chiến công có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh đất nước.

1

Tên tuổi Đại tướng gắn với những mốc son chói lọi của lịch sử dân tộc, với quá trình hình thành và phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, đồng thời để lại dấu ấn đặc biệt trong lịch sử quân sự thế giới. Nhưng vượt lên trên những chiến công và tầm vóc của một vị tướng, điều làm nên vẻ đẹp bền vững trong nhân cách Đại tướng chính là sự giản dị, khiêm nhường và một lẽ sống nhất quán: “Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó”. Đại tướng nói câu ấy khi được các thành viên Chính phủ đến chúc mừng nhân dịp tròn 100 tuổi. Ở tuổi một thế kỷ, sau hơn tám thập niên gắn bó với cách mạng, trải qua chiến tranh, hòa bình và những bước ngoặt lớn của đất nước, lời nói ấy không chỉ là một lời đáp giản dị trước sự quan tâm của các đồng chí, mà còn cho thấy cách Đại tướng nhìn nhận về cuộc đời mình: sống là để cống hiến, còn một ngày còn sống thì còn hướng về đất nước. Chính vì vậy, câu nói ngắn gọn ấy có thể được xem như sự kết tinh của một lẽ sống đã theo Đại tướng suốt cuộc đời, trong đó từng năm tháng, từng cương vị, từng việc làm đều hướng về Tổ quốc, về Nhân dân và sự nghiệp cách mạng.

Từ quê hương An Xá đến hành trình cách mạng

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911 bên dòng Kiến Giang, tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, nay thuộc xã Lệ Thủy, tỉnh Quảng Trị. Trên vùng quê giàu truyền thống yêu nước, những giá trị lịch sử, văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ đã trở thành một phần sâu đậm trong ký ức và tình cảm của Đại tướng. Quê hương không chỉ là nơi ghi dấu những năm tháng đầu đời, mà còn hiện diện trong hành trình hoạt động cách mạng và những suy tư về đất nước, con người.

Dù ở chiến trường hay khi đất nước đã hòa bình, dù đảm nhiệm những trọng trách lớn lao hay trở về với quê nhà, tình cảm dành cho nơi chôn nhau cắt rốn vẫn luôn sâu nặng. Nay vùng đất An Xá đã có những đổi thay về địa giới hành chính, nhưng giá trị lịch sử của nơi đã sinh thành một người con có những cống hiến đặc biệt xuất sắc cho dân tộc cùng niềm tự hào của các thế hệ Nhân dân vẫn được gìn giữ và trân trọng.

Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Nho học và yêu nước, Đại tướng sớm được nuôi dưỡng bởi những giá trị đạo lý, văn hóa và tinh thần trách nhiệm đối với quê hương, đất nước. Cha là nhà Nho Võ Quang Nghiêm, mẹ là bà Nguyễn Thị Kiên. Những năm tháng học tập tại Trường Quốc học Huế rồi Trường Albert Sarraut ở Hà Nội không chỉ mở rộng tri thức mà còn giúp Đại tướng cảm nhận sâu sắc thực trạng đất nước dưới ách thống trị của thực dân. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, tinh thần yêu nước và ý thức về vận mệnh dân tộc đã sớm được hun đúc, thôi thúc Đại tướng tham gia các phong trào học sinh, hoạt động đấu tranh yêu nước và từng bước đến với cách mạng.

Trong những năm 1930, bên cạnh hoạt động báo chí và cách mạng, thầy giáo Võ Nguyên Giáp bắt đầu sự nghiệp giảng dạy tại Trường tư thục Thăng Long, Hà Nội, phụ trách các môn Pháp văn, Địa lý và Lịch sử, trong đó có môn Lịch sử ở bậc tú tài. Trên bục giảng, những bài học lịch sử không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn góp phần khơi dậy ở học trò niềm tự hào dân tộc, lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm trước vận mệnh đất nước.

Dù thời gian đứng lớp không dài, hình ảnh người thầy giáo Võ Nguyên Giáp vẫn để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng nhiều thế hệ học trò, trong số đó có những người sau này trở thành cán bộ cách mạng, tướng lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam. Những năm tháng làm nghề giáo, nghiên cứu lịch sử và hoạt động báo chí đã tạo nên một nền tảng tri thức đặc biệt. Chính nền tảng ấy giúp Đại tướng sau này nhìn nhận chiến tranh không chỉ từ góc độ quân sự, mà trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, chính trị, con người và sức mạnh của Nhân dân. Phẩm chất của một nhà giáo vì thế không mất đi khi bước vào lĩnh vực quân sự, mà tiếp tục được thể hiện trong tư duy, phương pháp làm việc, tinh thần học tập, nghiên cứu và tổng kết thực tiễn suốt cuộc đời.

6008d8244f97cec99786

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước viếng mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Từ người thầy giáo đến vị Tổng Tư lệnh

Là người học trò xuất sắc, gần gũi và trung thành của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng được Người tin tưởng giao nhiều trọng trách trong những thời điểm có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân tộc.

Cuối năm 1944, thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập với 34 chiến sĩ, do Võ Nguyên Giáp tổ chức và trực tiếp chỉ huy. Hai trận đánh đầu tiên tại Phai Khắt và Nà Ngần đã khẳng định sức chiến đấu của lực lượng vũ trang cách mạng, đồng thời đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ một đội quân ban đầu chỉ có vài chục chiến sĩ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng sự che chở, nuôi dưỡng và đóng góp của Nhân dân, lực lượng vũ trang cách mạng từng bước lớn mạnh, trở thành lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất và bảo vệ Tổ quốc. Trên chặng đường ấy, Đại tướng đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng, gắn bó với quá trình tổ chức, xây dựng, lãnh đạo và chỉ huy quân đội qua những bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam.

Điều làm nên nét đặc biệt trong con đường binh nghiệp của Đại tướng là xuất phát điểm của một nhà giáo, một trí thức nghiên cứu lịch sử chứ không phải từ các trường lớp quân sự chính quy. Những kiến thức tích lũy từ sách vở, khả năng phân tích lịch sử, tinh thần tự học và kinh nghiệm được tôi luyện qua thực tiễn đấu tranh đã góp phần hình thành phương pháp tư duy quân sự sắc bén, linh hoạt và phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Trong chỉ huy, Đại tướng đặc biệt coi trọng việc nắm chắc tình hình, đánh giá đúng tương quan lực lượng, lựa chọn cách đánh phù hợp và phát huy trí tuệ tập thể. Quan trọng hơn, chiến tranh luôn được nhìn nhận trong mối quan hệ với chính trị, với thế trận lòng dân và sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc. Cách tiếp cận ấy giúp người chỉ huy không chỉ giải quyết những vấn đề cụ thể trên chiến trường, mà còn góp phần hình thành những phương pháp tác chiến phù hợp với một đất nước có tiềm lực vật chất hạn chế nhưng có truyền thống yêu nước, ý chí độc lập và sức mạnh đoàn kết to lớn.

Những dấu mốc làm nên tầm vóc một vị tướng

Những phẩm chất ấy được tôi luyện qua thực tiễn của hai cuộc kháng chiến và thể hiện rõ nét trong những quyết định có ý nghĩa bước ngoặt.

Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là một dấu mốc đặc biệt. Chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đã đập tan tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tạo bước ngoặt quyết định trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng thời góp phần thúc đẩy mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới.

Hơn hai thập niên sau, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đại tướng tiếp tục cùng Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và toàn quân, toàn dân tiến hành cuộc đấu tranh trường kỳ, góp phần làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Những dấu mốc ấy làm nên vị trí đặc biệt của Đại tướng trong lịch sử cách mạng Việt Nam thế kỷ XX.

Đằng sau mỗi chiến công là đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự phối hợp của các lực lượng và sự hy sinh to lớn của hàng triệu đồng bào, cán bộ, chiến sĩ. Trong sức mạnh chung của cả dân tộc, tài năng và bản lĩnh của người chỉ huy được phát huy, những quyết định trên chiến trường được chuyển hóa thành những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử.

Dấu ấn trong nghệ thuật quân sự và tư duy của người thầy

Từ thực tiễn chiến tranh cách mạng Việt Nam, Đại tướng có những đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là nghệ thuật phát huy sức mạnh tổng hợp của dân tộc, kết hợp sức mạnh quân sự với sức mạnh chính trị và ngoại giao, kết hợp hoạt động của lực lượng vũ trang với thế trận lòng dân, lựa chọn phương thức đấu tranh phù hợp với từng giai đoạn và tương quan lực lượng.

Đại tướng không chỉ trực tiếp chỉ huy mà còn dành nhiều tâm huyết cho nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và viết về lịch sử, quân sự, cách mạng Việt Nam. Qua những công trình và hoạt động nghiên cứu ấy, kinh nghiệm từ chiến trường được hệ thống hóa, góp phần lưu giữ những bài học quý giá cho việc nghiên cứu lịch sử và nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Có thể nói, phẩm chất của người thầy giáo đã theo Đại tướng trong suốt cuộc đời quân ngũ là luôn học hỏi, luôn suy ngẫm, coi trọng tri thức, biết lắng nghe và không ngừng tổng kết từ thực tiễn. Chính điều đó tạo nên một phong cách chỉ huy vừa quyết đoán, vừa thận trọng, vừa chú trọng mục tiêu chiến lược, vừa quan tâm sâu sắc đến con người.

Một vị tướng của Nhân dân

Nhưng điều đặc biệt ở Đại tướng là sau những chiến công vang dội, ông chưa bao giờ xem mình là người làm nên tất cả. Khi nhắc đến Điện Biên Phủ hay những thắng lợi của cách mạng, Đại tướng luôn đề cao sự lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vai trò của Nhân dân và những cán bộ, chiến sĩ đã chiến đấu, hy sinh.

Phía sau mỗi chiến thắng, trong ký ức của vị Tổng Tư lệnh, không chỉ có niềm vui mà còn có sự mất mát của những người đã nằm lại nơi chiến trường, những thương binh mang thương tích suốt đời, những gia đình tiễn người thân ra trận mà không ngày trở về. Sự trân trọng đối với từng cán bộ, chiến sĩ và nỗi đau trước những mất mát của chiến tranh đã tạo nên chiều sâu nhân văn trong phong cách của Đại tướng. Tài năng quân sự vì thế luôn đi cùng sự khiêm nhường, bản lĩnh của người chỉ huy luôn gắn với lòng thương người và ý thức sâu sắc về giá trị của hòa bình.

Ở vị trí cao của người chỉ huy quân đội, Đại tướng vẫn giữ sự gần gũi, tôn trọng và chân thành với những người dân bình dị. Ông coi trọng sức mạnh của lòng dân, lắng nghe những điều Nhân dân quan tâm và trăn trở trước những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của đồng bào.

Trong những lần về thăm quê, Đại tướng từng căn dặn cán bộ, chính quyền địa phương: “Có độc lập tự do mà chưa có ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân thì độc lập, tự do còn có ý nghĩa gì. Cho nên, chúng ta phải phấn đấu, phấn đấu nhiều hơn nữa để mang lại ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân”. Câu nói ấy thể hiện một quan niệm nhất quán về mục tiêu của cách mạng là độc lập, tự do phải gắn với ấm no, hạnh phúc; thành quả của cách mạng cuối cùng phải hướng đến cuộc sống tốt đẹp hơn của Nhân dân.

3

Đại diện Lãnh đạo Ban, lãnh đạo các phòng, đơn vị trực thuộc và đoàn viên Chi đoàn Ban Quản lý Khu kinh tế tổ chức viếng, dâng hương tại mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Trọn đời nặng tình với quê hương

Nếu với đất nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một nhân vật có tầm ảnh hưởng đặc biệt trong lịch sử cách mạng Việt Nam, thì với quê hương, Đại tướng trước hết vẫn là người con của làng An Xá.

Cuộc đời đưa Đại tướng qua những chiến trường khốc liệt, những cương vị đặc biệt và những bước ngoặt lớn của lịch sử, nhưng tình cảm dành cho quê nhà vẫn luôn sâu nặng. Mỗi lần trở về Quảng Bình, Đại tướng thường dành thời gian tìm hiểu đời sống của đồng bào, hỏi thăm cán bộ, Nhân dân và quan tâm đến những vấn đề cụ thể của quê hương.

Năm 1999, trong chuyến trở về thăm quê và một số địa phương trong tỉnh Quảng Bình, dù tuổi đã cao, Đại tướng vẫn nhớ rõ nhiều người, hỏi han cụ thể về cuộc sống của bà con, đặc biệt quan tâm đến đời sống người dân vùng cát Lệ Thủy và Quảng Ninh.

Tình cảm ấy tiếp tục được thể hiện trong lần trở về quê hương cuối cùng vào tháng 11 năm 2004. Khi ấy, Đại tướng chia sẻ: “Dù ở xa nhưng trái tim tôi vẫn hướng về quê hương, có khá đầy đủ thông tin về Quảng Bình. Tỉnh nhà có những việc làm tốt, tôi vui, nhưng cũng buồn khi tỉnh nhà có những chuyện chưa hay…”. Đó là một câu nói giản dị nhưng chứa đựng tình cảm sâu nặng của một người con luôn dõi theo từng bước phát triển của quê nhà. Đại tướng vui trước những điều tốt đẹp, trăn trở trước những hạn chế và mong quê hương ngày càng phát triển.

Trong chuyến về thăm năm 2004, Đại tướng còn quan tâm đến tình trạng bồi lắng cửa biển Nhật Lệ, vấn đề khai thác đá có thể ảnh hưởng đến Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và những bài toán phát triển kinh tế, giảm nghèo của tỉnh. Những điều ấy cho thấy tình yêu quê hương trong Đại tướng không phải một tình cảm hoài niệm, mà gắn với sự quan tâm cụ thể, với trách nhiệm và mong muốn quê hương vươn lên.

Một cuộc đời trở về với đất mẹ

Ngày 4 tháng 10 năm 2013, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần tại Hà Nội, khép lại cuộc đời 103 năm với hơn 80 năm hoạt động cách mạng. Ngày 13 tháng 10 năm 2013, linh cữu Đại tướng được đưa về an nghỉ tại Vũng Chùa - Đảo Yến, trong niềm tiếc thương sâu sắc của đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước.

Từ đó, Vũng Chùa - Đảo Yến trở thành một địa chỉ thiêng liêng trong lòng Nhân dân dành cho Đại tướng. Những cựu chiến binh từng chiến đấu, những gia đình có người thân hy sinh trong chiến tranh, những thế hệ trẻ sinh ra trong hòa bình và những người từ nhiều nơi đã tìm về để dâng hương, tưởng niệm. Dòng người nối tiếp nhau qua năm tháng là minh chứng cho sức sống của một tình cảm không dễ phai mờ.

Từ An Xá - nơi Đại tướng sinh ra - đến Vũng Chùa - Đảo Yến - nơi Đại tướng an nghỉ, hành trình ấy gợi nhắc về một cuộc đời bắt đầu từ quê hương, trưởng thành trong lòng dân tộc, cống hiến cho đất nước và cuối cùng trở về với đất mẹ.

Từ niềm tự hào đến trách nhiệm hôm nay

Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ là dịp để ôn lại cuộc đời, sự nghiệp và những chiến công đã đi vào lịch sử dân tộc, mà còn là dịp để mỗi người nhìn lại trách nhiệm của mình trước Tổ quốc và Nhân dân.

Thế hệ của Đại tướng đã dành những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời, bằng trí tuệ, bản lĩnh, lòng dũng cảm và cả sự hy sinh, để giành lại và bảo vệ độc lập, thống nhất đất nước. Thế hệ hôm nay được sống trong hòa bình, không còn phải đối mặt với chiến tranh, nhưng đang đứng trước những yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và phát triển.

Trong thời đại ấy, trách nhiệm của mỗi cán bộ, công chức trước hết được thể hiện từ chính công việc hằng ngày, tận tụy với nhiệm vụ, chấp hành kỷ luật, giữ gìn phẩm chất, gần dân, trọng dân, lắng nghe và giải quyết những vấn đề chính đáng của Nhân dân, đồng thời không ngừng đổi mới tư duy, chủ động hành động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Đối với những người đang công tác trên quê hương Đại tướng, sự cống hiến ấy càng mang một ý nghĩa đặc biệt. Đó là biến niềm tự hào về truyền thống thành động lực hành động, biến những thành quả của hòa bình thành nguồn lực phát triển, góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh, để giá trị của độc lập, tự do được tiếp nối bằng một cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc.

Có lẽ, sau tất cả những chiến công, danh hiệu và những trang sử hào hùng, điều còn lại sâu sắc nhất về Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn là một nhân cách lớn. Người con của An Xá, người thầy giáo dạy lịch sử, người học trò xuất sắc, gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Tổng Tư lệnh, người “Anh Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam, nhà quân sự có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, một vị tướng luôn trăn trở trước những hy sinh, mất mát của cán bộ, chiến sĩ, một người con xa quê nhưng trái tim luôn hướng về nơi mình sinh thành. Và trên hết, đó là một con người đã sống trọn vẹn với Tổ quốc và Nhân dân.

Từ An Xá, Đại tướng đã đi vào lịch sử; từ lịch sử, hình ảnh Đại tướng trở về với Nhân dân; và từ trong lòng Nhân dân, tên tuổi, nhân cách cùng những cống hiến của Đại tướng sẽ tiếp tục được gìn giữ qua các thế hệ, không chỉ như một vị tướng tài ba đã góp phần làm nên những thắng lợi vĩ đại của dân tộc, mà còn như một biểu tượng cao đẹp của lòng yêu nước, trí tuệ, bản lĩnh, sự khiêm nhường và tinh thần tận hiến trọn đời cho Tổ quốc, cho Nhân dân./.

Ngụy Trang - QLHTNQT

Các tin khác