Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 24

  • Hôm nay 4577

  • Tổng 8.770.409

Bình chọn

Theo bạn thông tin nội dung website thế nào ?

Phong phú đa dạng
Dễ sử dụng
Hữu ích

152 người đã tham gia bình chọn

Đảng vững niềm tin, dân tộc vững bước, Nhân dân đồng lòng

Post date: 03/02/2026

Font size : A- A A+

Xuân mới lại về trên đất nước Việt Nam thân yêu trong một thời khắc có ý nghĩa đặc biệt. Khi Đảng ta vừa tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, niềm tin và khát vọng phát triển của dân tộc được hun đúc ở một tầm cao mới. Gần một thế kỷ dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ giờ đã làm chủ vận mệnh của mình, từ đói nghèo, lạc hậu đến từng bước khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Hành trình ấy chưa bao giờ bằng phẳng, nhưng luôn được soi đường bởi một chân lý xuyên suốt: có Đảng, có Nhân dân, thì không có thử thách nào không thể vượt qua.

Nhìn lại lịch sử để vững bước đi tới, có thể thấy mỗi bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với bản lĩnh tự đổi mới, tự chỉnh đốn của Đảng.

Năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (tức là Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta) đã ra đi tìm con đường mới cho sự nghiệp cứu nước, đấu tranh giành độc lập dân tộc. Mang trong mình khát vọng lớn lao, cháy bỏng, Người đã tìm đến chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy ở học thuyết cách mạng này con đường cứu nước đúng đắn - con đường cách mạng vô sản. Sau nhiều năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài, Người đã kiên trì nghiên cứu, học tập, vận dụng sáng tạo và từng bước truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, dày công chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc thành lập một đảng cách mạng chân chính. Ngày 03/02/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản họp ở bán đảo Cửu Long, thuộc Hồng Kông (Trung Quốc), dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đã quyết định thống nhất các tổ chức cộng sản ở nước ta thành một Đảng duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Việc Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là thành quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành và đủ sức gánh vác sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng. Luận cương chính trị đầu tiên của Đảng được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đã xác định con đường cơ bản của cách mạng Việt Nam, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của Dân tộc và nguyện vọng tha thiết của Nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi vẻ vang, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tiếp đó là những cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ nhưng anh dũng bảo vệ vững chắc nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Bước vào thời kỳ hòa bình, đặc biệt từ công cuộc đổi mới được khởi xướng tại Đại hội VI (tháng 12 năm 1986), Đảng đã không ngừng bổ sung, phát triển đường lối lãnh đạo, đưa đất nước từng bước vượt qua khó khăn, khủng hoảng, hội nhập ngày càng sâu rộng và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và phát triển đất nước.

Sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, đã ghi dấu những kết quả mang tầm vóc lịch sử, tạo chuyển biến căn bản và toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống quốc gia. Trên nền tảng đó, kinh tế phát triển theo hướng ổn định và bền vững; chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân từng bước được nâng lên; các giá trị văn hóa, tiến bộ và công bằng xã hội tiếp tục được bồi đắp; quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Trên lĩnh vực đối ngoại, từ một quốc gia từng bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ, kiên định triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, thấm đẫm bản sắc “ngoại giao cây tre” - mềm dẻo, linh hoạt nhưng kiên cường, bản lĩnh. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia, thiết lập khuôn khổ quan hệ ổn định, lâu dài với 30 đối tác chiến lược và toàn diện, trong đó có 15 Đối tác chiến lược toàn diện, trải rộng khắp Á, Âu, Mỹ. Qua đó, mở rộng không gian phát triển, nâng cao vị thế, uy tín quốc gia trên trường quốc tế. Những thành quả đó không chỉ được phản ánh qua các chỉ số tăng trưởng hay thứ hạng phát triển, mà sâu xa hơn là sự kết tinh của đồng thuận xã hội, của niềm tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng.

Đại hội XIV của Đảng không khép lại bằng sự tự hào về quá khứ, mà mở ra một giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn, khẩn trương hơn và quyết liệt hơn. Ngay sau Đại hội, bài viết “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!” của Tổng Bí thư Tô Lâm đã vang lên, nhấn mạnh một thông điệp có tính mệnh lệnh chính trị: Thành công, nhất định thành công. Đó không chỉ là niềm tin, mà còn là trách nhiệm lịch sử đặt lên vai toàn Đảng, toàn dân trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, với thời cơ và thách thức đan xen chưa từng có.

Thực tiễn cho thấy, chặng đường phía trước không hề dễ dàng. Biến động địa - chính trị, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, những thách thức an ninh phi truyền thống, cùng sức ép hội nhập sâu rộng đang tác động trực tiếp đến môi trường phát triển của đất nước. Trong bối cảnh đó, nếu chậm trễ đổi mới, nếu do dự trong hành động, chúng ta không chỉ bỏ lỡ thời cơ mà còn có nguy cơ tụt lại phía sau. Chính vì vậy, tinh thần “không chùn bước, không lùi bước, chỉ có tiến lên” không phải là khẩu hiệu mang tính cổ vũ đơn thuần, mà là yêu cầu sống còn của sự nghiệp phát triển đất nước.

Đại hội XIV đã xác định rõ mục tiêu phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, đồng thời đề ra nhiều nhiệm vụ chiến lược mang tính đột phá: tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia; phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; hoàn thiện thể chế, khơi thông mọi nguồn lực; phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hội nhập quốc tế sâu rộng. Những chủ trương đó chỉ thực sự có ý nghĩa khi được cụ thể hóa bằng hành động quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả trong thực tiễn.

Ở đây, vai trò nêu gương và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, có ý nghĩa quyết định. Mỗi vị trí công tác phải trở thành một điểm tựa của đổi mới; mỗi cán bộ phải tự vượt lên chính mình, không tự thỏa mãn, không bằng lòng với kết quả đã đạt được. Lịch sử các nhiệm kỳ trước đã chỉ ra rằng, nơi nào có quyết tâm chính trị cao, có sự chỉ đạo tập trung, thống nhất và sâu sát, thì nơi đó chủ trương, nghị quyết đi vào cuộc sống; ngược lại, nếu thiếu quyết liệt, thì dù chủ trương đúng cũng khó thành công.

Sức mạnh lớn nhất của cách mạng Việt Nam luôn bắt nguồn từ lòng dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, trách nhiệm cộng đồng được nhân lên qua từng giai đoạn lịch sử, từ chiến tranh đến hòa bình, từ khắc phục thiên tai đến phát triển kinh tế. Niềm tin của Nhân dân không phải là điều trừu tượng, mà được bồi đắp bằng những việc làm cụ thể, bằng hiệu quả quản lý, bằng chất lượng phục vụ, bằng những thành quả mà người dân cảm nhận được trong đời sống hằng ngày.

Trong thời khắc hiện nay, hơn bao giờ hết, lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!” vẫn vang vọng như một mệnh lệnh từ lịch sử. Dưới ngọn cờ của Đảng, với bản lĩnh và trí tuệ của dân tộc, với khát vọng vươn lên mạnh mẽ của hơn 100 triệu đồng bào, chúng ta có đủ cơ sở để tin tưởng rằng thuận lợi sẽ nhiều hơn khó khăn, thời cơ sẽ lớn hơn thách thức.

Đại hội XIV đã thắp lên ngọn lửa niềm tin tất thắng. Giữ vững và biến ngọn lửa ấy thành động lực hành động chính là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Khi niềm tin được bảo chứng bằng kết quả cụ thể, khi mỗi nghị quyết được chuyển hóa thành những đổi thay thực chất trong đời sống Nhân dân, thì con đường đi tới một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai cùng các cường quốc năm châu sẽ không còn là khát vọng xa vời, mà trở thành hiện thực tất yếu./.

Nguỵ Trang - Văn phòng Ban

More